Nữ Chủ Tịch Đ/uổi Thẳng Cô Gái M/ồ C/ôi Ra Khỏi Công Ty, Vài Giây Sau Lại Ôm Chặt Cô Khóc Nức Nở
Phương Hằng vừa tròn hai mươi hai tuổi, một cô sinh viên nghèo mới ra trường. Cô mồ côi từ nhỏ, lớn lên nhờ bát cơm nguội và gánh ve chai của bà ngoại trong xóm trọ sập xệ ngoại thành. Hôm nay là ngày trọng đại. Cô được gọi phỏng vấn thực tập sinh tại tập đoàn dệt may Hưng Thịnh.
Từ mờ sáng, bà ngoại đã ủi phẳng chiếc áo sơ mi trắng cũ kỹ, cổ đã sờn nhưng là món đồ tươm tất nhất Hằng có. “Cố lên con. Người ta nghèo tiền chứ không nghèo ý chí,” bà nói. Hằng đạp xe hơn mười cây số, xích xe thỉnh thoảng tuột, tay dính dầu đen thui.
Khi đứng trước tòa nhà kính cao chót vót, cô thấy mình thật nhỏ bé. Bảo vệ nhìn chiếc xe đạp rỉ sét với ánh mắt nghi ngại. Phòng chờ máy lạnh mát rượi nhưng Hằng run cầm cập. Xung quanh toàn ứng viên ăn mặc bóng loáng, nước hoa nồng nặc. Cô giấu đôi bàn tay chai sạn sau lưng, hồ sơ nhàu nhĩ vì mồ hôi.
Bên trong, bà Hoàng Loan – nữ chủ tịch ngoài năm mươi, được gọi là “người đàn bà thép” – ngồi giữa bàn họp. Bà ghét sự yếu đuối, căm thù những kẻ dùng hoàn cảnh để xin thương hại. Hôm nay bà trực tiếp phỏng vấn vòng cuối.

“Ứng viên tiếp theo, Phương Hằng.”
Hằng bước vào, giọng lý nhí: “Dạ… cháu là Phương Hằng ạ.”
Bà Loan không ngẩng đầu: “Ở đây không có bác cháu. Xưng hô cho đúng mực.”
Ánh mắt sắc lẹm lướt từ đầu đến chân cô, dừng lại ở vệt dầu nhớt trên cổ áo. “Hồ sơ nhàu nhĩ, ăn mặc thiếu chuyên nghiệp. Kinh nghiệm bằng không. Tập đoàn Hưng Thịnh không phải trại trẻ mồ côi.”
Hằng cắn môi: “Thưa chủ tịch, sáng nay xe hỏng, tôi phải tự sửa. Tôi hứa sẽ làm việc bằng hai trăm phần trăm sức lực. Tôi cần việc để mua thuốc cho bà ngoại.”
Bà Loan đập bàn cái rầm: “Đủ rồi! Lại bài ca nghèo khổ. Cô nghĩ đây là hội chữ thập đỏ sao?”
Bà cầm tờ đơn xin việc, giơ lên ánh sáng, rồi xé toạc làm đôi. Xé thêm lần nữa. Từng mảnh giấy rơi lả tả xuống thảm. “Bảo vệ, đưa cô ta ra ngoài.”
Hằng đứng chết chân. Trong tuyệt vọng, cô sụp gối xuống sàn, run rẩy nhặt từng mảnh giấy vụn. Nước mắt nhòe những nét chữ nắn nót đêm qua cô thức trắng chuẩn bị.
Khi vươn người nhặt mảnh cuối dưới gầm bàn, cổ áo bị mắc ghế, cúc bung. Một chiếc khánh bạc xỉn màu văng ra, va nhẹ vào bàn kính, phát ra tiếng lách cách mỏng manh.
Hằng hốt hoảng định nhét lại. Hai bảo vệ hùng hổ xông vào, định xốc nách cô ra. Bà Loan vừa nhấc chân định đi thì khựng lại.
Ánh đèn hắt lên mặt khánh bạc. Đôi mắt bà trợn tròn. “Dừng tay!”
Bà hất ghế, bước loạng choạng về phía Hằng. Quỳ sụp xuống sàn. Người đàn bà thép chưa từng cúi đầu trước ai giờ quỳ trước cô thực tập sinh nghèo.
“Đưa nó cho tôi.”
Hằng ôm chặt khánh bạc – kỷ vật bà ngoại dặn không bao giờ tháo. “Xin cô, đừng lấy. Chỉ là cái vòng cũ thôi.”
Bà Loan run bần bật, vồ lấy chiếc khánh. Mặt trước khắc hoa sen nhỏ. Mặt sau: chữ L vụng về và một vết xém li ti do tàn nhang.
Bà há hốc miệng, mặt tái nhợt. “Cô từ đâu tới?”
“Cháu ở xóm trọ mười tám. Cháu mồ côi. Bà ngoại nuôi.”
Hai chữ “mồ côi” như nhát búa. Bà Loan ôm ngực, thở dốc. “Tất cả c/út ra ngoài!”
Cửa đóng sầm. Trong phòng chỉ còn hai người.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY
Ký ức hai mươi hai năm trước ập về. Năm 2004, bà Loan còn là người đàn bà góa bụa nghèo. Chồng chết vì sập hầm đá, để lại đứa con gái mới sinh thiếu tháng tên Tường Vi. Bà nhịn ăn, bán thóc đổi được chiếc khánh bạc đeo cho con trừ tà. Đêm rằm, dưới đèn dầu, bà khắc chữ L bằng lưỡi dao, vô tình tàn nhang xém một vết nhỏ.
Rồi bão lịch sử, đê vỡ. Bà đặt con vào thau nhựa, đẩy bơi. Cây gỗ lớn đập vào, tay tê cóng buông. “Vi ơi!” Tiếng thét hòa mưa gió. Con mất. Bà lang thang tìm kiếm hàng tháng, dán ngàn tờ giấy tìm trẻ lạc. Nước mắt cạn khô. Trái tim đóng băng. Bà lên thành phố, trở thành người đàn bà thép, kiếm tiền kiếm quyền với niềm tin mù quáng rằng chỉ có thế mới tìm lại được con.
Giờ đây, con đứng trước mặt, bị chính mẹ nhục mạ, xé nát hồ sơ.
Bà Loan nhìn Hằng. Đôi mắt to tròn, lông mày thanh tú – bản sao hoàn hảo của chồng quá cố. “Con tên là Tường Vi. Mẹ là mẹ của con. Mẹ tự tay khắc chữ L. Vết xém là tàn nhang đêm ấy. Đêm mưa bão, mẹ đặt con vào thau. Mẹ tìm con suốt hai mươi hai năm.”
Hằng cứng đờ. Lời bà ngoại nuôi ùa về: lụt lớn, bà vớt thau nhựa đỏ vướng dặng tre, bên trong đứa bé tím tái, cổ đeo khánh bạc.
“Mẹ… thật sự là mẹ của con sao?”
Bà Loan òa khóc, ôm chặt con. “Mẹ có tội. Mẹ tìm con đến mờ mắt, vậy mà khi con về, mẹ lại mù lòa không nhận ra.”
Bà bò trên thảm, nhặt từng mảnh giấy vụn: “Mẹ xin lỗi. Mẹ xé nát hồ sơ con, xé luôn tâm can mẹ.”
Hằng lao tới ôm mẹ: “Mẹ đừng nhặt nữa. Con không trách mẹ.”
Hai mẹ con ôm nhau giữa đống giấy vụn. Những mảnh giấy ấy giờ là chứng nhân của sự thức tỉnh. Bà Loan biết chặng đường bù đắp còn dài. Bà sẽ dùng cả đời còn lại để che chở đứa con gầy gò này, để không ai, kể cả chính mình, làm tổn thương con thêm một lần nào nữa.
Trong căn phòng đóng chặt, giữa guồng quay hối hả bên ngoài, một cuộc hồi sinh vừa bắt đầu. Sự thật mang nỗi đau tận cùng, nhưng cũng là phương thuốc chữa lành, kết nối hai trái tim bằng cái ôm muộn màng mà trọn vẹn yêu thương.